Trên cơ sở các phương pháp chung để tính giá thành sản phẩm, kế toán cần lựa chọn và áp dụng vào từng loại hình DN cho phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất,  đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm cũng như phù hợp với đối tượng kế toán chi phí. Công ty Quản Lý Hà Nội chúng tôi xin đưa ra một số phương pháp tính giá thành sản phẩm áp dụng trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu như sau:

1. Doanh nghiệp sản xuất đơn giản

Doanh nghiệp sản xuất đơn giản thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuất một số ít mặt hàng với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có không đáng kể như các DN khai thác than, quặng, hải sản,…. các DN sản xuất động lực (điện, nước, hơi nước, khí nén, khí đốt,…). Do số lượng mặt hàng ít nên việc kế toán CPSX được tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt hàng sản xuất được mở một số (hoặc thẻ) kế toán CPSX. Công việc tính giá thành thường được tiến hành vào cuối tháng theo phương pháp trực tiếp (giản đơn) hoặc phương pháp liên hợp.

Tạp chí thuế kế toán

 

2. Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng

Đối với các doanh nghiệp sản xuất theo các đơn đặt hàng của khách hàng, kế toán tiến hành tập hợp CPSX theo từng đơn đặt hàng. Đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm của từng đơn đặt hàng. Phương pháp tính giá thành tùy theo tính chất và số lượng sản phẩm của từng đơn sẽ áp dụng phương pháp thích hợp như phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tổng cộng chi phí hay phương pháp liên hợp,….

Đặc điểm của việc tập hợp chi phí trong các doanh nghiệp này là toàn bộ CPSX phát sinh đều được tập hợp theo từng đơn đặt hàng, không kể số lượng sản phẩm của đơn đặt hàng đó nhiều hay ít, quy trình công nghệ giản đơn hay phức tạp. Đối với các chi phí trực tiếp (chi phí NVL, trực tiếp; chi phí nhân công trực tiếp) phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt hàng nào thì tập hợp trực tiếp cho đơn đặt hàng đó theo các chứng từ gốc (hay bảng phân bổ chi phí). Đối với CPSXC, sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn theo tiêu chuẩn phù hợp (giờ công sản xuất, nhân công trực tiếp).

Việc tính giá thành ở trong các DN này chỉ tiến hành khi đơn đặt hàng thanh toán nên kỳ tính giá thành thường không đồng nhất với kỳ báo cáo. Đối với những đơn đặt hàng đến kỳ báo cáo chưa hoàn thành, toàn bộ chi phí tập hợp được theo đơn đều coi là sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển kỳ sau. Đối với những đơn đặt hàng đã hoàn thành, tổng chi phí đã tập hợp được theo đơn tạo nên chỉ tiêu tổng giá thành sản phẩm của đơn và giá thành đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng giá thành sản phẩm của đơn chia cho số lượng sản phẩm trong đơn.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, theo yêu cầu công tác quản lý cần xác định khối lượng công việc hoàn thành trong kỳ, đối với những đơn đặt hàng chỉ mới hoàn thành một phần, việc xác định sản phẩm dở dang của đơn có thể dựa vào giá thành kế hoạch (hay định mức) hoặc theo mức độ hoàn thành của đơn.

3. Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất kinh doanh phụ

SXKD phụ là ngành được tổ chức ra để phục vụ cho SXKD chính. Sản phẩm, dịch vụ của SXKD phụ được sử dụng cho các nhu cầu của SXKD chính, phần còn lại có thể cung cấp cho bên ngoài. Phương pháp tính giá thành sản phẩm, dịch vụ của SXKD phụ tùy thuộc vào đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận SXKD phụ trong DN, cụ thể:

Trường hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận SXKD phụ hoặc phục vụ không đáng kể: CPSX phát sinh sẽ được tập hợp riêng theo từng bộ phận, từng hoạt động của SXKD phụ. Giá thành sản phẩm, dịch vụ của từng bộ phận SXKD phụ sẽ được tính theo phương pháp trực tiếp.

Trường hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận SXKD phụ: CPSX được tập hợp riêng theo từng bộ phận SXKD phụ. Để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ của SXKD phụ, kế toán có thể áp dụng một trong số các phương pháp tính giá thành sau đây:

+ Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu: theo phương pháp này, trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận SXKD phụ và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng. Tiếp theo xác định giá trị phục vụ cho các đối tượng khác theo giá thành đơn vị mới.

 

Giá thành đơn vị mới = (Tổng chi phí ban đầu + Giá trị lao vụ nhận của phân xưởng phụ khác – Giá trị lao vụ phục vụ cho phân xưởng phụ khác)/ (Sản lượng ban đầu – Sản lượng phục vụ cho phân xưởng phu khác và tiêu dùng nội bộ (nếu có))

 

+ Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch: trình tự tính giá thành tương tự như phương pháp trên, chỉ khác thay giá thành đơn vị ban đầu bằng giá thành đơn vị kế hoạch để tính giá trị phục vụ lẫn nhau giữa các phân xưởng SXKD phụ. Tiếp theo xác định giá trị phục vụ cho các đối tượng khác nhau theo giá thành đơn vị mới.

+ Phương pháp đại số: là phương pháp xây dựng và giải các phương trình đại số để tính giá thành sản phẩm, lao vụ của SXKD phụ phục vụ các đối tượng.

 

4. Doanh nghiệp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo định mức

Trên cơ sở hệ thống định mức tiêu thụ lao động, vật tư hiện hành và dự toán về CPSXC, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản phẩm. Đồng thời, hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong kỳ thành 3 loại: theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch so với định mức. Từ đó, tiến hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm theo công thức:

Giá thành thực tế sản phẩm = Giá thành định mức sản phẩm +/- Chênh lệch do thay đổi định mức +/- Chênh lệch so với định mức

 

Với tính toán giá thành định mức được tiến hành trên cơ sở định mức tiên tiến hiện hành ngày đầu kỳ (thường là đầu tháng). Tùy theo tính chất quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và đặc điểm sản phẩm mà áp dụng các phương pháp tính giá thành định mức khác nhau (theo sản phẩm hoàn thành, theo chi tiết, bộ phận sản  phẩm rồi tổng hợp lại,… ). Để thực hiện định mức cũng như kiểm tra tình hình thi hành định mức được thuận lợi, việc thay đổi định mức được tiến hành vào ngày đầu tháng. Trường hợp thay đổi định mức diễn ra vào ngày giữa tháng thì đầu tháng sau mới phải điều chỉnh. Còn những chi phí phát sinh ngoài phạm vi định mức và dự toán quy định được gọi là chênh lệch so với định mức hay thoát ly định mức.